GRDP của tỉnh Hưng Yên tăng 10,72% trong 6 tháng đầu năm 2026, mức tăng mà một chuyên gia nghiên cứu logistics cấp cao cho rằng cần được hỗ trợ bởi mạng lưới logistics mạnh hơn để tỉnh trở thành đầu mối tổ chức và trung chuyển chuỗi cung ứng của Đồng bằng sông Hồng.
GRDP của Hưng Yên năm 2025 ước đạt 318.900 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 142.000 tỷ đồng, tăng 10,72%, xếp thứ 5 cả nước. Đến năm 2030, tỉnh định hướng quy hoạch 55 khu công nghiệp và 114 cụm công nghiệp với khoảng 7.035 ha.
Sau hợp nhất, địa bàn tỉnh trải từ khu vực giáp Hà Nội ra Biển Đông với khoảng 54 km bờ biển, nằm giữa các cực tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Ninh Bình. Các trục Vành đai 4, Vành đai 5, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng cùng hành lang ven biển mở rộng khả năng kết nối giữa các khu vực sản xuất trong tỉnh với thị trường Hà Nội và hệ thống cảng biển phía Bắc.
Hạ tầng chưa theo kịp yêu cầu. Đường bộ đảm nhận trên 94% khối lượng hàng hóa vận chuyển, đường thủy chiếm chưa đến 6%; dù có 111 bến thủy nội địa, phần lớn vẫn nhỏ lẻ, mức độ cơ giới hóa thấp. Kho bãi và dịch vụ hỗ trợ mới chiếm khoảng 3,7-5% GRDP ngành vận tải, kho bãi; trên địa bàn chưa có kho ngoại quan.
Khả năng kết nối giữa các đầu mối còn mỏng: Hưng Yên mới có một nút giao với cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, còn thiếu cầu vượt sông Hồng, trục kết nối trực tiếp sang Bắc Ninh và các tuyến Đông - Tây. Luồng Diêm Điền với độ sâu khoảng -1,5 m mới tiếp nhận tàu khoảng 2.000-3.000 tấn; kết nối đường sắt với ICD, cảng và bến thủy còn yếu.
PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa, Cố vấn cấp cao Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam, phát biểu tại tọa đàm diễn ra chiều 24/8 rằng việc mở rộng không gian công nghiệp sẽ kéo theo luồng nguyên vật liệu, hàng công nghiệp và hàng xuất nhập khẩu gia tăng mạnh, đồng thời hình thành nhu cầu kết nối logistics theo trục Bắc Hưng Yên - trung tâm tỉnh - ven biển, cảng biển. Bà đặt ra yêu cầu: "Đòi hỏi phát triển đồng bộ trung tâm logistics, kho bãi, vận tải đa phương thức và kết nối chặng cuối với các khu, cụm công nghiệp; tạo điều kiện để Hưng Yên chuyển từ địa bàn sản xuất thành nút tổ chức và trung chuyển chuỗi cung ứng của Đồng bằng sông Hồng".
Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho rằng sau hợp nhất, tỉnh có thể tổ chức một chuỗi không gian liên hoàn từ thị trường và các khu công nghiệp ở phía Tây Bắc, qua vùng sản xuất và đô thị trung tâm đến khu kinh tế và cửa biển ở phía Đông Nam. Tuy nhiên, lợi thế địa lý không tự động chuyển thành giá trị logistics khi thị trường vẫn phân mảnh, nhiều doanh nghiệp mới cung cấp từng công đoạn như vận tải đường bộ, cho thuê kho hoặc giao nhận.
"Với Hưng Yên sau hợp nhất, vấn đề đặt ra không chỉ là xây thêm kho bãi hay mở thêm tuyến vận tải, mà là thiết kế một hệ sinh thái logistics tích hợp, đủ sức kết nối và làm tăng giá trị cho toàn bộ không gian kinh tế từ cửa ngõ Thủ đô đến Biển Đông", ông Hải nhấn mạnh.
Theo ông Hải, hệ thống logistics cần được tổ chức theo chức năng của từng khu vực: khu vực Tây Bắc ưu tiên trung tâm phân phối vùng, kho thông minh, dịch vụ hoàn tất đơn hàng thương mại điện tử, logistics linh kiện và cảng cạn; khu vực trung tâm tập trung thu gom, sơ chế, kiểm nghiệm, đóng gói và kho lạnh dùng chung cho nông sản, thực phẩm; vùng ven biển dành không gian cho hậu cần cảng, kho ngoại quan, bãi container, hàng dự án và hậu cần năng lượng.
Về vận tải thủy, với hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, một phần hàng rời, vật liệu, nông sản và container có thể được chuyển khỏi đường bộ nếu hình thành các bến thủy và điểm gom hàng phù hợp. Vận tải thủy không thay thế đường bộ nhưng có thể trở thành phương thức nền cho những luồng hàng khối lượng lớn, góp phần giảm chi phí, ùn tắc và phát thải.
Ông Hải cho rằng bài toán logistics Hưng Yên không nên đo bằng số tuyến đường, số kho hay số trung tâm được xây dựng; việc đánh giá các dự án cần dựa trên thời gian và chi phí vận chuyển thực tế, với các chỉ tiêu theo dõi thời gian vận chuyển trên hành lang chính, tỷ lệ giao hàng đúng hạn, xe chạy rỗng, mức sử dụng kho, nhu cầu chuỗi lạnh, tỷ lệ thuê ngoài và mức độ số hóa.
Bình luận