Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn - tại 27 ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7% so với cuối năm 2025, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 17,5% của tổng nợ xấu.

Tuy vậy, nợ nhóm 5 vẫn chiếm tới 56% tổng nợ xấu. Có 11 ngân hàng ghi nhận nợ nhóm 5 giảm so với cuối năm 2025, trong đó giảm mạnh nhất là VietBank (giảm 48,5% còn 1.107,7 tỷ đồng), Saigonbank (giảm 31,3% còn 334 tỷ đồng) và VietinBank (giảm 21,3% còn 15.610,5 tỷ đồng).

VIB và Eximbank lần lượt giảm 9,7% và 8,8%, PGBank và Vietcombank cùng giảm 4,2%, ACB giảm 3,3%, Techcombank giảm 0,9% và ABBank giảm 0,1%. VPBank là ngân hàng duy nhất có tỷ trọng nợ nhóm 5 dưới 30% tổng nợ xấu (25,7%).

Đáng chú ý, nợ nhóm 2 tăng lên hơn 212.000 tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ nhóm 2 lên 1,37% vào cuối quý II so với 1,23% cuối quý I/2026. Nợ nhóm 2 hình thành ròng gần 81.000 tỷ đồng, mức cao nhất kể từ quý I/2023. Nợ ngoại bảng đã xử lý và đang theo dõi vượt 1 triệu tỷ đồng.

Theo Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), nợ xấu nội bảng toàn ngành khoảng 310.000 tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 6% so với quý trước.

Ông Đỗ Thanh Tùng, Trung tâm Phân tích VDSC nhận định: 'Chất lượng tài sản đang phát đi tín hiệu khá xấu trong nửa đầu năm 2026. Đây là hệ quả của mặt bằng lãi suất cho vay tăng khá nhanh, với lợi suất các khoản vay tăng khoảng 1-2 điểm phần trăm trong 3 quý gần nhất, tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ'.

VDSC cho rằng đáng chú ý nhất là đà tăng của nợ nhóm 2, chỉ báo sớm cho nợ xấu trong 1-2 quý tới, trong khi bộ đệm dự phòng của đa số ngân hàng chưa được củng cố tương xứng.

Chứng khoán Guotai Junan Việt Nam (GTJA) cũng lưu ý nợ nhóm 2 tăng 28,3% so với đầu năm, với 15/28 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng trong quý II, tín hiệu sớm cho thấy rủi ro tín dụng đang mở rộng trước khi chuyển hóa thành nợ xấu nội bảng.

Trong khi đó, Luật số 96/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 15/10/2025 bổ sung quyền thu giữ tài sản bảo đảm và Nghị định 304/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/12/2025 quy định chi tiết, củng cố khả năng thực thi quyền chủ nợ và rút ngắn quy trình xử lý nợ có tài sản bảo đảm.